|  Đăng nhập
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

 

Tiêu đề: Một số đặc điểm sắc bùa xứ Quảng
Tác giả: Phạm Hữu Đăng Đạt


1. Hát sắc bùa là loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian mang tính chất lễ nghi nông nghiệp pha tạp với pháp thuật đạo giáo diễn ra vào các ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Thời thịnh đạt của sắc bùa xứ Quảng từ năm 1945 trở về trước. Sau năm 1945, do ảnh hưởng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều đội sắc bùa tan rã. Từ ngày giải phóng đến nay, một số đội sắc bùa được phục hồi. Đó là các đội sắc bùa Giảng Hòa ở Đại Thắng, Đại Lộc; các đội sắc bùa làng Thanh Châu, làng Cổ Tháp([1]) và làng Lệ Bắc ở Duy Châu, Duy Xuyên... Nhưng, nhiều nơi khác như Bảo An thuộc Điện Quang, Điện Bàn hay ở làng Chấn Sơn, xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc hình thức hát sắc bùa không còn tồn tại([2]).

Như vậy, sắc bùa xứ Quảng diễn ra trên địa bàn các huyện ở gần kề nhau là Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc, Nông Sơn, Quế Sơn([3]). Tại Đại Lộc, ngoài hội sắc bùa ở làng Chấn Sơn, xã Đại Hưng thì làng Giảng Hòa xã Đại Thắng và các làng Thanh Châu, Lệ Bắc, Cổ Tháp ở Duy Châu, Duy Xuyên lẫn Bảo An ở Điện Quang, Điện Bàn có vị trí địa lý cũng tương đối gần kề nhau. Do tính chất địa lý tự nhiên như trên nên hát sắc bùa ở các địa phương này có nhiều điểm giống nhau, ảnh hưởng nhau, bổ sung cho nhau, từ hệ thống các tiết mục, làn điệu đến các bài hát, lối hát, trang phục.

Đặc biệt, đây là những địa phương nằm sâu trong đất liền, hầu hết cư dân của các làng, xã này đều là cư dân nông nghiệp kết hợp với nghề tằm tang cũng như một số ngành nghề khác nên trong các bài hát, nhất là những bài hát cũ, thịnh hành hồi trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 phong phú nhất là các bài ca ngợi nghề nông, rồi nghề làm thợ dệt, nghề ươm tơ, dệt lụa...

2. Sắc bùa xứ Quảng, cũng như sắc bùa các tỉnh, thành khác, là loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian, mang tính quần chúng rõ nét. Chính nhân dân, không phân biệt giàu nghèo, đã có công nuôi dưỡng và tạo điều kiện cho sắc bùa phát triển. Tuy nhiên, cũng có quan điểm chưa đúng rằng thoạt đầu, sắc bùa là loại hình sinh hoạt gắn liền với những gia đình giàu tiền lắm bạc, sau đó mới trở thành sinh hoạt mang tính quần chúng([4]). Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi được biết hát sắc bùa Quảng Nam xưa nay là loại hình sinh hoạt văn hóa văn nghệ mang tính quần chúng, không phân biệt kẻ giàu, người nghèo.

Giáo sư Lê Trí Viễn trong bài viết “Sắc bùa xứ Quảng” khi thuật lại hoạt động của đội hát sắc bùa làng mình nhớ như in rằng “Đến cuối xóm, đoàn ngừng lại ở cửa nhà chị Hai Lan. Túp lều ở cạnh giếng làng và cây cổ thụ. Hai vợ chồng nghèo nhất làng. Sương nắng quanh năm mà nhà cứ thiếu kép thiếu đơn. Anh Hai bệnh nặng bỏ chị đã ba năm. Chị một mình tần tảo nuôi mẹ chồng già yếu. Thấy đoàn đã tới, chị lo quá, bước ra van xin “Con lạy bác Tám (ông bắt cái), các chú, các anh thương cho cảnh mẹ con em mà miễn cho”. Ông Tám ôn tồn: “Đoàn là của cả làng cả xóm, tổ tiên bao đời giao cho đoàn tất vị phú vong bần, coi ai cũng cành cũng lá của tổ tiên, ai cũng được đoàn cầu chúc cho năm mới. Hai mẹ con chẳng biết lễ lạt gì hết”. Ông Tám hô: Bớ Hò Con! - Dạ - Vậy chúng ta chúc này: “Sắc Bùa là Sắc Bùa chung, tham phú phụ bần là trái ý tổ tiên. Dì Năm (bà mẹ chồng) già yếu cao niên, cô Hai thật sánh dâu hiền Thoại Khanh. Chứng tri có nước giếng, lá sanh, lòng cô trong như nước, lá sanh đậm như tình của cô. Ông trời có phụ ai mô, tổ tiên phù hộ, cơ đồ sẽ làm nên...”([5]).

Không chỉ ở Điện Quang, ở các nơi khác, tình hình cũng diễn ra tương tự. Cho nên, nói hát sắc bùa ban đầu chỉ là hoạt động của những gia đình quyền quý hoàn toàn không có cơ sở.

3. Về số lượng thành viên, ở Quảng Nam, tùy theo mỗi nơi mà số lượng thành viên trong mỗi đội từ 5 đến 15 người. Trong đó, các đội sắc bùa ở Lệ Bắc, Cổ Tháp, Duy Châu thuộc huyện Duy Xuyên và Giảng Hòa thuộc xã Đại Thắng huyện Đại Lộc phổ biến có từ 5 đến 9 thành viên là tối đa. Ngược lại, các đội sắc bùa ở Đại Lãnh thuộc huyện Đại Lộc và Bảo An thuộc Điện Quang, Điện Bàn phổ biến từ 8 đến 15 thành viên. Điều đáng chú ý là đội sắc bùa Thanh Châu, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tuy do một ông tên là ông Lê, người xã Điện Quang, qua hướng dẫn và trực tiếp làm đội trưởng đội sắc bùa Thanh Châu nhưng toàn đội cũng chỉ có 7 thành viên. Đặc biệt, ở làng Lộc Đại, nay thuộc xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, các đội hát sắc bùa phổ biến chỉ có 3 thành viên gồm 1 người làm cái chuyên vỗ trống cơm, hai người còn lại cầm sinh tiền và phách tre([6]).

Rõ ràng, số lượng thành viên các đội sắc bùa ở Quảng Nam không thống nhất mà có sự co giãn nhất định. Ngay như ở làng Chấn Sơn, hồi trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong làng có đến hai đội hát sắc bùa. Trong đó, có hội lên đến 12 thành viên. Còn hội kia chỉ có 8 thành viên. Ở Thừa Thiên-Huế, theo Tôn Thất Bình trong tác phẩm “Tục hát sắc bùa ở Phò Trạch”([7]) thì mỗi đội hát sắc bùa Phò Trạch có từ 14 đến 16 người. Còn theo “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh”([8]) thì các phường sắc bùa ở đây thường có từ 5 đến 10 người. Tại Phổ An, Đức Phổ, Quảng Ngãi, biên chế của đội sắc bùa hiện nay thông thường có 11 thành viên gồm 5 đàn ông và 6 nữ([9]). Còn tại Phú Lễ, tỉnh Bến Tre, đội hát sắc bùa tối thiểu phải có 6 thành viên và tối đa là 12 người([10]). Sự khác nhau trong số lượng thành viên các đội hát sắc bùa ở Quảng Nam thể hiện sự linh hoạt trong quá trình tổ chức, biểu diễn của người địa phương.

Điểm khác biệt của sắc bùa Quảng Nam so với sắc bùa Quảng Ngãi là từ xưa đến nay, thành viên của các đội hát sắc bùa ở Quảng Nam luôn là nam giới. Hoàn toàn không có nữ. Nhạc sĩ Trần Hồng trong tác phẩm “Hát sắc bùa”, như đã nói, chủ yếu giới thiệu sắc bùa Quảng Ngãi. Cho nên, trong tác phẩm trên, tác giả giới thiệu múa trong hát sắc bùa. Các thành viên múa trong sắc bùa Quảng Ngãi đều là nữ. Đây là điểm khác biệt của sắc bùa Quảng Ngãi so với sắc bùa Quảng Nam([11]).

Giải thích nguyên nhân vì sao sắc bùa xứ Quảng không có thành viên là nữ, một số nghệ nhân hát sắc bùa cho rằng ngày xưa, xuất phát từ quan niệm trọng nam khinh nữ, người Quảng rất kỵ chuyện ngày Tết, đàn bà con gái đứng trước bàn thờ tổ tiên. Mà, trong sắc bùa, phải có bài hát dâng hương và trấn bùa. Dâng hương cho ông bà, dĩ nhiên, đội hát sắc bùa phải đứng trước bàn thờ tổ tiên hát bài “Dâng hương” và dâng hương. Nhưng, không chỉ riêng bài tiết mục dâng hương, những bài hát khác chủ yếu cũng hát trong nhà, trước bàn thờ tổ tiên. Thế cho nên, người ta không muốn nữ giới làm thành viên của đội sắc bùa. Vì như vậy sẽ phạm vào điều “kiêng cữ” của người Quảng, nhất là những gia đình còn nặng đầu óc mê tín. Tuy nhiên, từ sau năm 1945, mặc dù tư tưởng trọng nam khinh nữ không còn nữa nhưng trong các đội sắc bùa xứ Quảng cũng không có ai là nữ.

4.  Trang phục của các đội sắc bùa Quảng Nam có những điểm khác biệt so với nhiều nơi khác. Về trang phục, ngày xưa, các đội sắc bùa ở Quảng Nam chỉ mặc duy nhất một loại trang phục. Đó là áo dài đen, quần trắng, chân đi guốc mộc. Người làm cái, trên đầu phải đội khăn đóng. Riêng đội sắc bùa xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, thì ăn mặc tương đối cầu kỳ hơn. Giáo sư Lê Trí Viễn trong “Sắc bùa xứ Quảng” đăng trong tạp chí “Giáo dục-Đào tạo thành phố Đà Nẵng” số Xuân Tân Tỵ, 2001, trang 40, có mô tả cách ăn mặc của các thành viên đội hát sắc bùa như sau: “Ăn mặc vui mắt: Bắt cái áo rộng (áo thụng), khăn đóng, Hò con khăn nhiễu, quần trắng, áo dài đen, thắt lưng ngũ sắc...”([12]). Từ sau năm 1945, trang phục của các đội sắc bùa Quảng Nam càng về sau càng đơn giản hơn. Ngoại trừ người làm cái bắt buộc phải áo dài, quần Tây, khăn đóng, chân mang giày thì người làm con chỉ cần áo sơ mi, quần Tây, mang giày là được. Thậm chí, nếu người làm con không có giày thì mang dép([13]).

Ở các địa phương khác, trang phục của các thành viên đội sắc bùa khá cầu kỳ. Tại Phò Trạch, Thừa Thiên-Huế, người làm cái và ông tróc quý phái mặc áo mã tiên có vẽ rồng phượng, lưng có thắt dây vải đỏ... Còn tại Quảng Ngãi, ngày xưa, trang phục của người làm cái là áo dài đen, quần lụa trắng, dầu chít khăn đỏ, chân mang giày vải thêu chỉ màu vàng, thắt lưng đỏ hoặc vàng... Nhìn chung, trang phục của các đội sắc bùa Quảng Nam so với Thừa Thiên-Huế hay Quảng Ngãi đơn giản hơn, không đòi hỏi phải đầu tư tiền của. Có thể nói, đây là điểm khác biệt khá rõ nét.

5.  Nhạc cụ của các đội sắc bùa ở xứ Quảng thời trước khá phong phú về chủng loại. Hồi những năm đầu thế kỷ XX, tại Lệ Bắc, nay là Lệ Trạch, Duy Châu, Duy Xuyên, đội sắc bùa Lệ Trạch sử dụng nhiều loại nhạc cụ. Nguyên bấy giờ, đội hát sắc bùa chữ. Toàn đội có tất cả 6 thành viên. Ngoài người làm cái sử dụng trống thì các thành viên còn lại, mỗi người sử dụng một loại nhạc cụ. Đó là kèn tiểu, sáo, phách tre và đờn cò.

Đến năm 1947, khi đội sắc bùa Lệ Bắc do ông Trương Văn Nhượng làm cái, do nhiều nguyên nhân, đội hát sắc bùa chỉ có 5 thành viên. Ngoài ông Trương Văn Nhượng chơi trống cơm thì ông Nguyễn Khởi chơi kèn tiểu, ông Trương Tình sử dụng đờn cò, ông Trương Sở dùng trống sấm còn ông Nguyễn Thơ sử dụng phách tre. Do mang theo những loại nhạc cụ khá cồng kềnh nên khi đội vào nhà ai hát chúc Tết, gia chủ thường phải đem một chiếc chiếu trải ra giữa nhà để đội sắc bùa ngồi biểu diễn.

Ở làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, đội sắc bùa cũng sử dụng một số loại nhạc cụ như trống, đàn, sáo... Giáo sư Lê Trí Viễn nhớ lại “Làng tôi có một đội sắc bùa. Cha truyền con nối. Từ người bắt cái đến kẻ hò con, từ tay trống lệnh, trống chiến, đến đờn cò (đàn nhị); kèn, sáo, sinh, xập xòa, đến gióng hàng một, rẽ hàng hai... Tất cả đều tập từ nhỏ”([14]). Ở đây, có lẽ đội sắc bùa Điện Quang và đội sắc bùa hát bùa chữ ở Lệ Bắc hồi đầu thế kỷ XX trở về trước là những đội có sử dụng sáo trong hát sắc bùa. Các nơi khác không thấy đề cập đến loại hình nhạc cụ này.

Khoảng vào nửa cuối thế kỷ XX trở về sau, các loại nhạc cụ như kèn tiểu, trống sấm, đờn cò, sáo không còn xuất hiện trong các đội hát sắc bùa xứ Quảng. Thay cho kèn tiểu, trống nhạc, đờn cò, sáo là phách tre, sinh tiền. Riêng người làm cái vẫn mang trống cơm. Rõ ràng, về nhạc cụ, xu hướng giản đơn ngày càng chiếm ưu thế trong sắc bùa xứ Quảng.

Trong hát sắc bùa, trống cơm là loại nhạc cụ không thể thiếu được. Trống có bề dài khoảng 50cm, hai đầu hơi tum, đường kính mặt da khoảng 15cm. Ngày xưa, da trống thường được bịt bằng da kỳ đà hay da trăn. Nay không có da kỳ đà hay da trăn nên trống cơm lại được bịt bằng da trâu. Hai bên trống được buộc 2 đầu dây vải. Người làm cái mang trống ngay trước bụng, dùng tay vỗ trống.

Trống sấm cao khoảng 40cm, hai đầu cũng hơi tum lại. Đường kính mặt trống từ 50 đến 60cm, chỉ bịt da một mặt, mặt kia đế trống. Người đánh trống sấm dùng 2 cái dùi để đánh. Kèn tiểu cao khoảng 40cm, thân làm bằng gỗ mít, mặt loa khoảng 10cm. Trên ống kèn, người ta khoét theo hàng dọc 7 lỗ bấm và một lỗ ở sau ống. Bầu loa kèn làm bằng gỗ, gò đồng, thau. Phổ biến là loa gỗ.

Sinh tiền được làm bằng hai thanh gỗ, gọi là sinh chính và sinh phụ. Cả hai thanh đều dài khoảng 20cm, ngang độ 2cm. Đầu thân cây sinh chính có gắn chốt dài chừng 3cm. Trên mỗi chốt có gắn vào 2 đồng tiền có lỗ. Sinh phụ chỉ có một chốt, cũng được gắn hai đồng tiền. Trên thân có răng cưa để khi biểu diễn các quân sẽ kéo hai thanh sinh vào nhau. Thời trước, tiền được gắn thường là tiền đồng có lỗ ở giữa. Loại tiền này khi gõ kêu to. Ngày nay, người ta dùng nắp chai bia, chai nước ngọt đập dẹp ra, khoét lỗ ở giữa thay “đồng ăn sáu”([15]). Phách tre được làm bằng gỗ hay tre cật, dài khoảng 20cm, ngang 2cm. Các loại nhạc cụ khác như đờn cò, sáo... giống như những nhạc cụ hiện đang sử dụng phổ biến trong dàn nhạc, ban nhạc.

6.  Trong sắc bùa xứ Quảng từ năm 1945 trở về trước, phần quan trọng không thể thiếu là hát bài dán bùa và dán bùa. Nghi thức hát và dán bùa tuy không cầu kỳ, nhiều tình tiết, đòi hỏi phải chuẩn bị đầy đủ lễ vật nhưng diễn ra rất trang nghiêm và trang trọng. Theo quan niệm xưa, ngày xuân, không ai không thích chuyện đội sắc bùa vào nhà mình trấn áp ma quỷ đến phá phách sự an lành của gia đình. Xuất phát từ lý do đó nên một trong những khâu đội hát sắc bùa cần chuẩn bị trước khi đi biểu diễn trong dịp Tết cổ truyền là chuẩn bị sẵn những lá bùa. Thường thường, họ không làm mà nhờ những người làm thầy cúng tương đối có tiếng tăm trong hay ở ngoài làng làm giúp.

Về hình thức, lá bùa hồi ấy là mảnh giấy có hình chữ nhật, dài khoảng 30cm, rộng khoảng 10cm, màu vàng, trên và dưới đều có đường viền màu xanh. Cũng có nơi không có đường viền màu xanh. Hình thù lá bùa do thầy vẽ rất kỳ dị, không ra chữ, không ra hình, nhìn có vẻ huyền bí. Lá bùa được dán ở căn trung, tức bên trong đầu cửa ra vào, đối diện với bàn thờ tổ tiên. Mỗi nhà thường thường được dán một lá bùa. Nhưng, nếu gia chủ yêu cầu, đội cũng có thể dán ở cửa buồng và ngay cả... chuồng heo.

Lá bùa trong sắc bùa xứ Quảng cũng gần giống lá bùa trong múa hát sắc bùa Nghệ An và Hà Tĩnh([16]). Ở Nghệ An, lá bùa bằng giấy nhuộm màu nghệ, trên có đóng ấn bằng son khá đẹp, được dùng để dán lên nóc cửa, buồng the, chuồng lợn, chuồng trâu và trên cả hồi nhà. Còn ở Quảng Ngãi, nghi thức ém quỷ trừ tà xưa diễn ra khá phức tạp, như gia chủ phải đem con gà trống đã làm sẵn ra cúng ngoài sân, rồi đội hát sắc bùa thực hiện các nghi thức để tiến hành các thủ tục phạt mộc, rồi mới đến hát bài trấn bùa và trấn bùa với ba lá bùa được trấn trên giữa xuyên, ngay tim nhà, trước bàn thờ chính ngó vào, hai lá bùa được trấn hai bên([17]).

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, tiết mục dán bùa và việc dán bùa trong sắc bùa xứ Quảng không còn tồn tại nữa. Thay cho việc dán bùa lá dán cờ. Nói là “dán cờ” nhưng thực tế các đội sắc bùa chỉ hát bài dán cờ chứ không dán cờ. Hơn nữa, đội chỉ hát khi gia chủ yêu cầu. Nếu không, cho qua. Từ đó, dẫn đến hệ quả tất yếu là trong hệ thống các tiết mục chính, mục “Dán bùa” xưa hay “Dán cờ” nay gần như không còn tồn tại.

7.  Về thời gian, vào ngày hai mươi tháng chạp âm lịch, đội trưởng đội sắc bùa triệu tập tất cả các thành viên trong đội về dự lễ cúng tổ sắc bùa. Lễ cúng đơn giản, nhiều khi chỉ nải chuối, xôi, hương đèn, áo giấy... Tuy nhiên, trước kia đội sắc bùa Thanh Châu cúng tổ tương đối lớn, mổ cả con heo to. Sau khi ăn uống tại chỗ xong, còn phần sư, đội trưởng chia đều cho các thành viên đem về cho vợ con, gia đình. Dự lễ xong, cả đội bắt đầu tập luyện.

Trong quá trình tập luyện, ông đội trưởng chủ yếu ôn lại những bài hát cũ, phổ biến những bài hát mới. Tất cả các thành viên phải học thuộc lòng những bài hát này. Đồng thời, họ phải học luôn cả cách biểu diễn từng bài một. Khi người làm cái vỗ trống và bắt đầu xướng thì những người làm con phải làm gì, đi đứng kiểu cách ra sao, hòa nhịp như thế nào cho nhuyễn... Nhìn chung, toàn đội phải học thuộc tất cả các bài hát, tập đi tập lại cách đội hát sắc bùa đến ngõ, hát bài mở ngõ, rồi mở cửa, vào nhà, hát chúc Tết... đến bài dán bùa, dâng hương, đi ra. Trong vòng mười ngày trước Tết, làm gì thì làm, nhưng tất cả các thành viên đội sắc bùa phải thành thạo đến mức nhập tâm. Nghĩa là khi cái xướng bài nào, toàn đội biết ngay bài đó, tránh bị chuyện bị “bể dĩa” nửa chừng.

Các đội sắc bùa xứ Quảng thường bắt đầu biểu diễn vào đêm giao thừa, khoảnh khắc thiêng liêng, trân trọng nhất, đánh dấu một năm mới với nhiều may mắn, thạnh tài, thạnh lợi... Không như một số nơi khác như ở Phò Trạch, Thừa Thiên-Huế bắt buộc phải đi sắc ở đình chùa chiếu mạo trong làng trước rồi mới đến các dòng họ và nhà dân, đội sắc bùa Quảng Nam chỉ biểu diễn đình làng, nhà thờ tộc họ khi được mời, còn chủ yếu họ sắc ở nhà dân.

8.  Ngày tết, theo thông tục xưa, ở nhiều làng quê, người Quảng thường mở ngõ, mở cửa hầu như suốt ngày, đêm. Họ chỉ đóng khi chuẩn bị đi ngủ. Dĩ nhiên, Tết thì có khi quá nửa đêm nhưng nhiều gia đình vẫn còn thức. Cho nên, khi đội sắc bùa sắp tới nhà ai, gia chủ gần như đã biết trước. Một số gia đình chủ động ra đóng ngõ, đóng cửa. Không phải họ đóng ngõ, đóng cửa vì không muốn đội sắc bùa vào hát chúc Tết mà để đội phải bắt đầu bằng bài “Mở ngõ”... Vậy là lúc đến ngõ, đội chỉnh đốn hàng ngũ, trang phục rồi bắt đầu hát bài mở ngõ. Thế là gia chủ liền ra mở ngõ. Toàn đội bước vào sân, tiếp tục hát bài mở cửa([18]).

Ngày Tết, theo lệ thường, hễ khách đến thăm nhà ai, công việc đầu tiên sau khi chào hỏi là... xin phép gia chủ thắp mấy cây hương cho ông bà. Đây là thủ tục không thể thiếu, nhất là với những người có học thức, hiểu nhiều, biết rộng. Cho nên, khi vào nhà, người làm cái xin phép gia chủ thắp mấy cây hương lên bàn thờ tổ tiên và toàn đội hát bài “Dâng hương”.

Tiếp theo bài dâng hương là bài chúc Tết gia chủ. Có thể đội hát một bài chúc xuân có nội dung nói lên không khí nhộn nhịp của những ngày đầu năm mới, chúc gia chủ muôn sự như ý, vạn sự tốt lành. Rồi, tùy theo gia chủ hành nghề gì, đội sẽ hát bài ấy, từ nghề nông, nghề thợ mộc, thợ dệt đến nghề buôn bán... Sau đó, đội sẽ hát những bài hát góp vui tùy ý hoặc hát theo yêu cầu của gia chủ.

Trong lúc đội đang hát góp vui, gia chủ lại lẳng lặng chuẩn bị trầu rượu, bánh trái, thịt thà... để đãi đội sắc bùa. Khi đội hát đã thấm mệt, gia chủ liền mời dùng chén trà, cốc rượu, ăn chút gì lót lòng. Dĩ nhiên, đây cũng là lúc gia chủ nói lời cảm ơn và gửi biếu anh em chút tiền gọi là để bồi dưỡng công khó nhọc của toàn đội. Sau khi ăn uống, trò chuyện đôi chút, đội tiếp tục hát bài dán bùa và tiến hành thủ tục dán bùa.

Dán bùa rồi, theo trình tự tiết mục, đội hát bài đi ra. Toàn đội vừa hát vừa lui ra. Buổi diễn coi như kết thúc trong tiếng trống vỗ dồn dập giữa đêm khuya, tiếng phách tre, sinh tiền phụ họa làm không khí ngày xuân càng thêm rộn ràng, háo hức. Đội sắc bùa lại tiếp tục cuộc hành trình, tiếp tục rong ruổi đến gia đình khác trong làng, trong xóm.

P.H.Đ.Đ



([1]) Hiện nay, ở hai làng Thanh Châu và Cổ Tháp tuy không còn đội hát sắc bùa nhưng cũng có năm, họ lại tập và hát phục vụ trong những ngày tết cổ truyền.

([2]) Trong tác phẩm Tết xứ Quảng của tác giả Võ Văn Hòe, tại trang 153, có ghi “Cứ tưởng sắc bùa người Duy Châu đọc là (xóc bùa), là bùa mê, bùa lú của những tay phù thủy xóc xiên, nhưng đây là một hoạt động văn hóa...”. Thực ra, ở Duy Châu, người ta không gọi là “xóc bùa” mà gọi là “sắc bùa”. Không chỉ Duy Châu, ở các nơi khác như Giảng Hòa, Chấn Sơn thuộc Đại Lộc hay Bảo An thuộc Điện Bàn, nhân dân vẫn gọi là sắc bùa.

([3]) Chúng tôi cũng đi khảo sát ở nhiều huyện khác như Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước... nhưng chưa phát hiện ở đâu có hình thức sinh hoạt sắc bùa.

([4]) Võ Văn Hòe trong tác phẩm Tết xứ Quảng có chép “Thoạt đầu, hoạt động này (tức chỉ hát sắc bùa Quảng Nam - TG) chỉ xảy ra trong những gia đình quyền quý, về sau trở thành phổ biến cả trong nhân dân...”. Xem: Võ Văn Hòe - Tết xứ Quảng, NXB Đà Nẵng - 2005, Tr.153.

([5]) Tạp chí Giáo dục-Đào tạo thành phố Đà Nẵng số Xuân Tân Tỵ-2001, Tr.41.

([6]) Theo ông Trần Huyện, sinh năm 1925, trú làng Lộc Đại, xã Quế Hiệp, kể.

([7]) Tôn Thất Bình - Huế, lễ hội dân gian - NXB Thuận Hóa - Huế - 2003, Tr.158.

([8]) Nguyễn Đổng Chi và các tác giả - Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh - NXB Nghệ An, 1995

([9]) Nguyễn Đăng Vũ - Múa hát sắc bùa ở Quảng Ngãi - Tạp chí Văn hóa dân gian - Số 4 (82) - 2002, Tr.58.

([10]) Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc... - Đặc khảo về hát sắc bùa - Sở Văn hóa Thông tin và Trung tâm Văn hóa Thông tin Tp. Hồ Chí Minh xb - 2000, Tr.76.

([11]) Nhân tiện, chúng tôi xin nói thêm. Trước đây, Đài Truyền hình Đà Nẵng có giới thiệu sắc bùa Quảng Nam. Trong đó, có giới thiệu sắc bùa Thanh Châu, nay thuộc xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Phần minh họa, đáng tiếc thay, có múa trong hát sắc bùa. Sau khi xem, tôi có về Thanh Châu, gặp gỡ ông Ngô Phước, bấy giờ là đội trưởng đội sắc bùa Thanh Châu. Thì ra, để cho... đẹp, người ta đề nghị có phần múa trong hát sắc bùa. Ông Ngô Phước chỉ làm theo yêu cầu của Đài. Ông cũng công nhận đây là chuyện không đúng, hoàn toàn không có trong sắc bùa Quảng Nam.

([12]) Tài liệu đã dẫn, Tr.40.

([13]) Võ Văn Hòe trong tác phẩm Tết xứ Quảng, Tr.153, có mô tả “Mỗi đoàn có từ 5 đến 7 người, trong đó có 3 người sắm vai Phước, Lộc, Thọ...”. Sự thật, ở Quảng Nam, qua các đợt điều tra điền dã, chúng tôi khẳng định không có đội hay hội hát sắc bùa nào có thành viên sắm vai Phước, Lộc, Thọ như Võ Văn Hòe mô tả.

([14]) Lê Trí Viễn - Sắc bùa xứ Quảng - Tạp chí Giáo dục-Đào tạo thành phố Đà Nẵng - Số Xuân Tân Tỵ, 2001, Tr.40.

([15]) Đồng ăn ba, đồng ăn sáu là một loại tiền có từ thời vua Minh Mạng.

([16]) Xem Nguyễn Đổng Chi và các tác giả - Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh - NXB Nghệ An - 1995.

([17]) Nguyễn Đăng Vũ - Múa hát sắc bùa ở Quảng Ngãi - Tạp chí Văn hóa dân gian - Số 4 (82) - 2002, Tr.62.

([18]) Còn gọi là bài khai môn.

Quay về
VĂN
Bến sông có ngải
Ước mơ gửi lại
Sân ga
Lăn tăn đời người
THƠ
Ấm lời Bác giữa Ba Đình
Tháng chín mùa thu thấy Bác về
Cung đàn Thu
Người chọn từ cho thơ vỗ cánh bay
Đất nước - tình yêu
Mùa thu tháng Tám
Đòn gánh + Những góc khuất
Những góc khuất
Tự khúc
Viết trong ngày biển động
Hình dung
Nhật ký gió cuốn
Tình yêu của những ngọn đèn đường
Cái chết của đá
DÒNG CHẢY VĂN HÓA
Một số đặc điểm sắc bùa xứ Quảng
NGHIÊN CỨU-LÝ LUẬN-PHÊ BÌNH
Tự do sáng tác và chân thực nghệ thuật
Quê hương màu đất
TRÀ DƯ TỬU HẬU
Những tiếng chim trong vườn nhà ngõ phố
VĂN HỌC-HỌC VĂN
Những cánh hoa mùa hạ