|  Đăng nhập
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

 

Tiêu đề: DINH TRẤN THANH CHIÊM VỚI CHỮ QUỐC NGỮ
Tác giả: Trần Văn An


Cho đến nay không còn nghi ngờ gì nữa về vai trò của xứ Quảng Nam/dinh Quảng Nam trong sự nghiệp củng cố lực lượng, mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế của các chúa Nguyễn mà khởi đầu là chúa Tiên Nguyễn Hoàng với việc vào trấn nhậm Quảng Nam năm 1570 và chọn lập hành dinh Quảng Nam (dinh Chiêm) ở xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên năm 1602. Những công trình nghiên cứu về vai trò của xứ Quảng Nam trong quá trình mở cõi về phương Nam của các vương triều phong kiến Việt Nam đã được tiến hành khá chi tiết và cung cấp lượng thông tin rất phong phú, đa dạng. Ở đây, chỉ xin đặt lại một vấn đề về danh xưng “Dinh trấn Thanh Chiêm” cũng như vai trò của Kẻ Chiêm - xứ Quảng trong việc hình thành chữ Quốc ngữ.

I. Dinh Chiêm/dinh Chàm hay dinh trấn Thanh Chiêm

Lâu nay các nhà nghiên cứu thường dùng danh xưng “Dinh trấn Thanh Chiêm” để chỉ hành dinh/lỵ sở Quảng Nam. Việc dùng như vậy diễn ra như một quán tính để đến nay, tên gọi này trở thành danh xưng phổ biến trên các công trình nghiên cứu và trong ngôn ngữ thường ngày.

Truy nguyên về danh xưng “Dinh trấn Thanh Chiêm”, mặc dù đã cố gắng lục lọi các nguồn tư liệu thư tịch nhưng vẫn không tìm thấy tên gọi này. Có chăng là những ghi chép trong Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí về việc Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho lập trấn dinh (dinh Chiêm/dinh Chàm) ở xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên, sau dời về xã Thanh Chiêm...([1]). Ở các ghi chép này có thể xác định được một điều: xã Cần Húc hoặc xã Thanh Chiêm hoặc sau này là xã La Qua là các địa phương nơi đặt trấn sở và các tên gọi này không trùng với tên gọi dinh Chiêm/dinh Chàm hoặc dinh Quảng Nam.

Trong các văn bản của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, ghi chép của các giáo sĩ phương Tây, các nhà buôn, nhà sư Trung Hoa cũng không thấy xuất hiện danh xưng dinh trấn Thanh Chiêm ở bất cứ tài liệu nào mà chỉ có danh xưng Caciam (Kẻ Chiêm); dinh Chiêm/dinh Chàm hoặc Chiêm. Những danh xưng này sử dụng phổ biến trong các hồi ký, các ghi chép của nhiều cá nhân trong giai đoạn từ thế kỷ 17 đến 18. Thậm chí nó được dùng phổ biến hơn tên gọi “Dinh Quảng Nam” mặc dù vào giai đoạn này trên các văn bản hành chính của Đàng Trong đều ghi là “Quảng Nam dinh Công đường quan([2]).

Trong tư liệu của các giáo sĩ Kitô giáo dòng Tên đến truyền giáo ở Đàng Trong vào nửa đầu thế kỷ 17 có hai cuốn hồi ký đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản gần đây, đó là cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621 của Cristophoro Borri và cuốn Hành trình và truyền giáo của Alexandre de Rhodes. Trong hai cuốn sách này cũng hoàn toàn không tìm thấy danh xưng Thanh Chiêm như một số bài viết đã sử dụng, trích dẫn.

Về các dinh phủ ở Đàng Trong, vào năm 1621 Cristophoro Borri cho biết: “...Xứ Đàng Trong chia làm 5 tỉnh. Tỉnh thứ nhất là nơi Chúa ở ngay sát Đàng Ngoài gọi là Thuận Hóa. Tỉnh thứ hai là Cacciam, nơi hoàng tử làm trấn thủ. Tỉnh thứ ba là Quamguia, thứ tư là Quignim, người Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran...([3]). Tỉnh là cách dùng của các giáo sĩ chứ lúc bấy giờ gọi là dinh hoặc phủ. Ở đây Hồng Nhuệ giữ nguyên tên gọi “Cacciam” chứ không dịch thành Quảng Nam như một số trường hợp khác và nhờ vậy ta biết được tên tiếng Việt phổ biến lúc bấy giờ của Quảng Nam, xứ Quảng là Kẻ Chiêm hoặc Kẻ Chàm.

Liên quan đến từ Chàm/Chiêm trong Hành trình và truyền giáo của Alexandre de Rhodes xuất hiện 3 tên gọi([4]): 1/ Prouince de Cham: tỉnh Chàm đúng hơn là dinh Chàm/dinh Chiêm; Hồng Nhuệ dịch là Quảng Nam([5]). 2/ Ville de Cham: Thành Chàm hoặc Thành Chiêm, phố Chiêm; Hồng Nhuệ dịch tỉnh Quảng Nam([6]). 3/ Port de Cham: bến Chàm, có lẽ là bến/cửa Đại Chiêm; Hồng Nhuệ dịch là bến Hội An([7]).

Ở cuốn sách này, tên gọi Thanh Chiêm cũng không tìm thấy, ngay cả trong đoạn mô tả về cái chết vì đạo của thầy Anrê Phú Yên. Vả lại trong lời vinh danh việc tử vì đạo của Anrê Phú Yên, tòa thánh La Mã đã ghi: “...caixão esta o corpo do martir Andre catequista de Cochinchina que em CaCham foi alancecado edegolado pella condesão de nostra santa feé por mandado do mandarin Oughebo a os 26 Juglio 1644”. (Tác giả sách Dinh trấn Thanh Chiêm Quảng Nam dịch là: Đây là thi hài vị tử đạo An-rê, thầy giảng xứ Đàng Trong đã bị trảm quyết tại Kẻ-Chàm (Thanh Chiêm) vì xưng tụng đức tin, do lệnh của ông quan gọi là Ông Nghè Bộ vào ngày 26 tháng 7 năm 1644)([8]).

Rõ ràng Tòa Thánh đã dùng danh xưng CaCham và danh xưng này phải dịch là Kẻ Chàm chứ không thể là Thanh Chiêm như nhiều người dịch([9]). Kẻ Chàm ở đây là tương đương với Quảng Nam.

Trong bản đồ về Đàng Trong và Đàng Ngoài do Alexandre de Rhodes vẽ năm 1651 đã ghi một địa danh “Dinh Ciam” nằm bên cạnh Haifo về phía Tây. “Dinh Ciam” là từ Latinh hóa có gốc tiếng Việt là Dinh Chiêm hoặc Dinh Chàm. Đây là tên gọi phổ biến của trấn sở Quảng Nam thời bấy giờ.

Bổ sung cho danh xưng Dinh Chiêm với vai trò là một trấn sở của Quảng Nam, một số bản đồ cổ của Việt Nam cũng đã vẽ lại một tòa thành lớn nằm cạnh phố Hội An về phía Tây và ghi là 占 营, 瞻 营 (Chiêm dinh).


Trích Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, 1774, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Cộng hòa Pháp, KH:A2499 (1: Hội An phố;
7: Chiêm dinh)

Trích Giao Châu địa dư đồ, biên soạn thời Lê sao lục thời Nguyễn,
Viện Nghiên cứu Hán Nôm,
Cộng hòa Pháp, KH:A1716
(4: Hội An phố; 8: Chiêm dinh)

Thực tế về sự có mặt của dinh Chiêm này đã được khẳng định trong Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, bản năm Tự Đức: “Lỵ sở cũ của Dinh Chiêm: ở xã Cần Húc huyện Duy Xuyên. Hồi đầu bản triều dựng dinh trấn ở đây, dựng hành cung phủ khố để phòng khi chúa đi tuần du, sau khi trải qua loạn lạc, bỏ hư. Sách Phủ biên tạp lục chép: “Dinh Quảng Nam ở xã Cần Húc, tục gọi Dinh Chiêm...”([10]).

Một số tư liệu cũng cho thấy, đôi khi người ta dùng chỉ một từ Chiêm (占) để chỉ trấn sở Quảng Nam. Trong các bản kê ngân lễ của làng Minh Hương các năm 1744, 1746, 1747 xuất hiện cách ghi: Bổn xã thượng Chiêm trình kiếu; truyền bổn xã thượng Chiêm truyền mại hỏa tiêu (Bổn xã lên Chiêm trình xét, truyền bổn xã lên Chiêm sai mua hỏa tiêu (thuốc pháo)([11]).

Chu Thuấn Thủy trong An Nam Cung dịch kỷ sự viết năm 1657 cũng đã ghi lại việc ông lên Chiêm hoặc Chiêm Thượng để diện kiến Ông Nghè Bộ. Bản gốc ghi: Vãng Chiêm thượng kiến Ông Nghè Bộ (往 占 上 見 翁 儀 簿), ở đây có thể hiểu là lên Chiêm Thượng để gặp Ông Nghè Bộ hoặc lên Chiêm để thượng kiến (gặp có tính tôn trọng) Ông Nghè Bộ([12]). Như vậy, đôi khi danh xưng Chiêm (占), chữ Chiêm với cách ghi như trong từ Chiêm Thành được dùng để chỉ trấn sở Quảng Nam mặc dù lúc này trong các văn bản hành chính đã dùng tên gọi dinh Quảng Nam một cách chính thức. Nói như vậy để thấy rằng trong một số trường hợp đã xuất hiện danh xưng Chiêm để chỉ trấn sở Quảng Nam chứ chưa bao giờ có danh xưng Thanh Chiêm được dùng với trường hợp tương tự (dinh trấn/trấn sở).

Về danh xưng xã Thanh Chiêm: Trong Ô Châu Cận lục của Dương Văn An soạn vào năm 1553, phần ghi 66 xã của huyện Điện Bàn không thấy tên xã Thanh Chiêm hoặc xã Phú Chiêm.

Trong bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật niên đại 1640 ở động Hoa Nghiêm, Non Nước xuất hiện các tên người ở các xã Cẩm Phô, Hội An, Phước Châu, Trà Lộ, Bồ Mưng, Quá Gián, Trà Đông, Phú Chiêm... nhưng không thấy tên xã Thanh Chiêm.

Tên gọi Thanh Chiêm cho đến nay chúng tôi mới tìm thấy sớm nhất ở sổ kê ngân lễ của làng Minh Hương năm Cảnh Hưng 5 (1744). Trong sổ kê này ghi là Thanh Chiêm (Triêm) Phố (清 霑 痡). Ở đây có một vấn đề cần lưu ý là ở các trang trước thì ghi là Phú Chiêm phố (富 霑 痡) nhưng phần cuối tổng kết số tiền nộp lại ghi là Thanh Chiêm phố. Các sổ ngân lễ năm 1746, 1747 đều ghi Phú Chiêm phố không thấy tên Thanh Chiêm phố hoặc Thanh Chiêm xã, mặc dù trong các bản kê này ghi hàng trăm địa danh ở Quảng Nam nơi có người làng Minh Hương sinh sống. Lúc bấy giờ nhơn số người làng Minh Hương sinh sống ở phố Phú Chiêm rất đông đúc, chỉ sau phố Hội An và Trà Nhiêu, chứng tỏ nơi đây từng là một chợ phố lớn cần lưu ý.

Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục viết vào khoảng năm 1776-1777 cũng đã ghi lại các địa danh xã Thanh Triêm/Chiêm, đò Thanh Triêm/Chiêm([13]).

Trong sổ đinh của làng Minh Hương năm Thái Đức 11 (1788) ghi tên 3 người ở xã Thanh Chiêm (清 霑 社) thuộc huyện Diên Khánh([14]).

Địa bộ Gia Long năm 11 (1812) ghi xã Thanh Chiêm thuộc tổng An Nhơn Trung, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn.

Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí, năm Tự Đức ghi: “Chợ Thanh Chiêm: ở xã Thanh Chiêm huyện Diên Phước, tục gọi chợ Củi([15]).

Như vậy, có thể thấy rằng Thanh Chiêm với đơn vị hành chính là một xã xuất hiện khá phổ biến trong nhiều tư liệu và do vậy nó không thể trùng với Kẻ Chiêm là đơn vị hành chính cấp dinh của Đàng Trong hoặc trùng với dinh Chàm là một dinh trấn/lỵ sở lớn thứ 2 của các chúa Nguyễn thời bấy giờ.

Như vậy:

- Kaciam, Caciam, KeCham, Cachão, Prouince de Cham # Tỉnh Chàm, xứ, dinh Quảng Nam = Thanh Chiêm (là đơn vị hành chính).

- Dinh Ciam, Dinh Chiêm, Ville de Cham # dinh trấn Quảng Nam = dinh trấn Thanh Chiêm (là địa danh trấn sở).

II. Kẻ Chiêm, dinh Chiêm với chữ Quốc ngữ

Với việc phát hiện các tư liệu mới về chữ Quốc ngữ, đến nay đã có sự thay đổi trong cách nhìn nhận theo hướng cho rằng chữ Quốc ngữ là công trình tập thể của một số giáo sĩ Kitô giáo dòng Tên người Bồ, Ý, Pháp... cộng với sự tham gia của một số nho sĩ, tu sĩ, các chức sắc Kitô giáo, con chiên người Việt ở những nơi mà các giáo sĩ cư trú, truyền đạo. Cách nhìn nhận này có điểm mới so với trước đây khi tôn vinh Alexandre de Rhodes là người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.

Về điều này, có lẽ cách đánh giá của học giả Gieorges Taboulet là khá chính xác: “Việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latinh, điểm thêm các dấu quy ước, là một công lao tập thể mà sự đóng góp chủ yếu là linh mục de Pina, Borri, Giaspa do Amaral, António de Barosa, nhưng linh mục de Rhodes thì có công hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến văn tự này([16]).

Về các địa điểm giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp ngữ liệu để thực hiện việc Latinh hóa tiếng Việt có thể kể ra các địa phương như Kẻ Chàm, Hội An, Nước Mặn, Kẻ Chợ (Thăng Long-Hà Nội). Ngoài ra cũng phải kể đến một số địa phương khác nơi các giáo sĩ Kitô giáo thường lui tới vào thế kỷ 17 như Cửa Hàn, Turan (Đà Nẵng), Cửa Bạng (Thanh Hóa), Bố Chính. Sự phối hợp tiếng nói của các vùng này trong quá trình Latinh hóa có thể thấy được trong từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes([17]) với việc xuất hiện các từ thuần Quảng như lạc đàng, tố, gió Nam, gió Nồm, ghế cơm, sớt cơm... Từ ở Đàng Ngoài như lợn, rau ghém, sẻ cơm, cây nến, con me... Ngoài ra còn có một số từ có nguồn gốc từ tiếng lai Hoa - Việt như Thiên, Địa, Thập, Ngũ... Qua cuốn tự điển này ta cũng thấy giọng Quảng, cách nói Quảng đã được Alexandre de Rhodes sử dụng với tần số rất cao, kể cả về ngữ âm và từ vựng. Kết hợp với các nguồn tư liệu khác có thể xác định rằng Kẻ Chàm/Kẻ Chiêm - Quảng Nam là một chiếc nôi quan trọng của chữ Quốc ngữ.

Trở lại với danh xưng Thanh Chiêm với vai trò là một trú sở Kitô giáo quan trọng vào thế kỷ 17-18 như nhiều công trình nghiên cứu đề cập nhưng trong bảng kê của Launay năm 1747 về các địa sở của các nhóm thừa sai Kitô giáo ở Đàng Trong, phần tỉnh Chàm có 49 địa sở nhưng không có tên địa sở Thanh Chiêm([18]). Điều này càng minh xác rằng Kaciam, Caciam, Cachão là Kẻ Chàm, Kẻ Chiêm, tỉnh Chàm - Quảng Nam chứ không thể dịch thành Thanh Chiêm.

Như vậy, có thể nói rằng:

- Chữ Quốc ngữ là sáng tạo tập thể của một số giáo sĩ Kitô giáo dòng Tên người Bồ, Ý, Pháp... cùng các cá nhân, con chiên người Việt trong vai trò là những người cung cấp ngữ liệu, bổ sung, hoàn chỉnh việc Latinh hóa tiếng Việt.

- Các địa phương/trú sở có vai trò quan trọng trong việc Latinh hóa tiếng Việt là Kẻ Chàm/Kẻ Chiêm (trong đó có 2 trú sở/địa sở trọng yếu là Hội An; Cửa Hàn); Nước Mặn (Quy Nhơn); Kẻ Chợ (Thăng Long - Hà Nội); Cửa Bạng (Thanh Hóa); Bố Chính. Trong đó địa phương có tầm ảnh hưởng sâu sắc nhất và là nơi khởi đầu của việc Latinh hóa tiếng Việt là Kẻ Chàm, xứ Quảng.

T.V.A



([1]) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, trang 117 ghi: “Từ tuần Ải Vân đến dinh Quảng Nam, tục gọi là Dinh Chiêm ở xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên không quá 2 ngày. Như đại quân đóng đồn ở dinh Chiêm mà đi vào kinh lược thì qua sông đến Kẻ Thí (cầu có ván nhỏ) trên sông nhỏ Bảo Toán qua quán Lang Châu xã Vân Quất (cầu có ván), sông Bà Rén...”.

     - Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1, Nxb Sử học, 1962, trang 42 ghi: “Liền vượt qua núi xem xét hình thế, dựng dinh trấn ở xã Cần Húc huyện Duy Xuyên, xây kho tàng chứa lương thực, sai Hoàng tử thứ 6 trấn giữ...”.

     - Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa, 1997, trang 340 ghi: “Thành tỉnh Quảng Nam: ...đầu bản triều dựng dinh trấn ở xã Thanh Chiêm thuộc huyện Diên Phúc sau vì loạn mà bỏ, năm Tân Hợi (1801) lúc bắt đầu thời Trung Hưng lấy lại Quảng Nam, đặt tạm ở phố Hội An, năm Gia Long thứ 2 dời đến lỵ sở cũ ở xã Thanh Chiêm, thành đắp bằng đất, năm Minh Mạng thứ 14 dời trụ sở đến xã La Qua...”.

([2]) Các tài liệu này hiện lưu trữ tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An.

([3]) Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1998, Hồng Nhuệ dịch, tr.13.

([4]) Alexandre de Rhodes, Hành trình và truyền giáo, Ủy ban Đoàn kết Công giáo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, Hồng Nhuệ dịch.

([5]) Alexandre de Rhodes, sđd, bản gốc trang 128, bản dịch trang 96.

([6]) Alexandre de Rhodes, sđd, bản gốc trang 250, bản dịch trang 183.

([7]) Alexandre de Rhodes, sđd, bản gốc trang 76, bản dịch trang 58.

([8]) Dẫn lại Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền (2011), Dinh trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, Sở TT-TT Quảng Nam, tr.98-99.

([9]) Đỗ Quang Chính.ST (2008), Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, Nxb Tôn giáo, ở trang 47 tác giả đã giới thuyết rằng: “Trong tư liệu của các Giêsu hữu ở Đàng Trong thế kỷ 17, dùng các tự dạng khác nhau như Dinhciam, Caciam, Kecham, Dinh Cham, CaCham để chỉ cơ sở Thành Chiêm (Thanh Chiêm) phía Tây Hội An. Tất cả những kiểu ký âm ở trên đều chỉ địa danh Thanh Chiêm thời đó. Trong sách này, chúng tôi dùng Thành Chiêm, thay vì Thanh Chiêm, Dinh Chàm, Kẻ Chàm”. Ngay tác giả sách Dinh trấn Thanh Chiêm Quảng Nam cũng đã viết: Kẻ Chàm (Thanh Chiêm). Chúng tôi cho rằng đó là sự xác định khiên cưỡng, không chính xác.

([10]) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa, 1997, tr.369, 340.

([11]) Các tư liệu này hiện lưu trữ tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An.

([12]) Chu Thuấn Thủy, Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 1999, Vĩnh Sính dịch.

([13]) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, sđd, trang 93 ghi: Nội phủ Thanh Triêm xã; trang 218 ghi: đò Thanh Chiêm tiền thuế 214 quan 5 tiền.

([14]) Tài liệu Hán Nôm lưu trữ tại Trung tâm QLBT Di sản Văn hóa Hội An.

([15]) Sđd, tr.376.

([16]) Gieorges Taboulet, “Công trạng của Pháp ở Đông Dương”, dẫn lại của Đinh Trọng Tuyên, Đinh Bá Truyền, Dinh trấn Thanh Chiêm Quảng Nam, tr.65-66.

([17]) Alexandre de Rhodes, Từ điển Việt-Bồ-La, Nxb Khoa học xã hội, 1991; Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính dịch.

([18]) Launay, Histoire de Pa Mission de Cochinchina, dẫn lại Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, tr.271, 276, 277. Trong bảng kê này ở tỉnh Chàm có 49 địa sở từ miền núi cho đến miền biển như Dùi Chiêng, Trà Kiệu, Chiêm Sơn, Phiếm Ái, Cẩm Đăng, Cu Đê, Hội An, Trà Sơn, Kẻ Tha (Kẻ Thí, Mỹ Xuyên), Cồn Úc...

Quay về
VĂN
HẬU DUỆ XÓM CHỒI
HẬU ĐẬU, ANH YÊU EM!
CƯỚI NHẰM CƠN LŨ
CHUYỆN BÊN LỀ MỘT THỜI TRONG QUÂN NGŨ
THƠ
MÙA THU
NHỮNG ĐÊM RỜI
NHỚ TIẾNG KÊU ĐÒ
BẤT CHỢT QUÊ THIÊNG
KHÁCH LẠNH
TỰ KHÚC SÔNG
THƠ TÌNH SAU SINH NHẬT
GIẬN
RẰM KHUYẾT
PHÍA TÌNH YÊU LẨN KHUẤT
PHỐ TRƯA
BẤT CHỢT
QUÊ NGOẠI + TRONG MẮT EM CÓ GIẤC MƠ CỦA NÚI
THU SANG + LỜI RU TIẾNG GIÓ
SAO KHÔNG NHÌN BÌNH MINH + NGỒI BÊN MẸ
NỖI NIỀM + TA CỦA HÔM NAY
VÀ TA CỦA BA MƯƠI NĂM + TIẾNG RAO
THƠ ĐỀ BÌNH NƯỚC TRÀ MIỀN PHÍ BÊN ĐƯỜNG + KHÔNG ĐỀ
NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN - PHÊ BÌNH
DINH TRẤN THANH CHIÊM VỚI CHỮ QUỐC NGỮ
CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG VỚI CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP
LẤP LÁNH SẮC MÀU MỸ THUẬT XỨ QUẢNG
NGÂY THƠ NÉT CỌ THIẾU NHI...
TRÀ DƯ TỬU HẬU
SỰ ĐỜI...
VĂN HỌC - HỌC VĂN
TẤM LÒNG BÁC HỒ QUA MỘT BÀI THƠ CHÚC TẾT TRUNG THU